GIỚI THIỆU ĐỊA CHÍ TỈNH HƯNG HÓA (Bản dịch) - Phần II

Lời dẫn: Bản địa chí tỉnh Hưng Hóa được sưu tầm từ Thư viện tỉnh Phú Thọ


Bản gốc: Notice de la province de Hung hoa


Sách của Nxb Dông dương tạp chí. 1899- Lưu trữ ở Thư viện QG. KH: M.2284 (8)


Bản dịch: Thư viện tỉnh Vĩnh Phú (Phú Thọ ngày nay)


 Người dịch: Nguyễn Xuân Lân.


Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu nguyên văn địa chí tỉnh Hưng Hóa.

PHẦN THỨ TƯ /VỊ TRÍ KINH TẾ

          10-Nông nghiệp- 20- Công kỹ nghệ - 30- Thương mại 

          VỊ TRÍ KINH TẾ

          Những vụ loạn lạc diễn biến trên đất Hưng Hóa trong nhiều năm trước đây đã làm cho dân chúng chịu đựng nhiều cảnh điêu đứng. Liên tiếp bị tống tiền và xua đuổi, dân chúng buộc lòng phải bỏ hoang một phần ruộng đất. Từ khi tình hình ổn định, dân chúng lại hăng hái bắt tay vào công việc. Ở hầu khắp các nơi trong tỉnh, ruộng đất được cày cấy như cũ. Trên sườn núi, người ta gieo trồng đủ thứ hoa mầu. Nghề buôn tre gỗ phát triển mạnh. Ngày nay, dân chúng đã bắt đầu có điều kiện sống dễ chịu.

          Tuy đất ở Hưng Hóa không phì nhiêu như vùng đất châu thổ song vì dân cư không đông nên họ không phải làm lụng khẩn trương vất vả như ở vùng châu thổ mà vẫn có thể sống dễ chịu hơn nhiều.

          10- NÔNG NGHIỆP:

          Chất đất khác nhau đã tạo điều kiện cho dân chúng gieo trồng rất nhiều thứ. Diện tích mênh mông của đồi núi đã cho họ một môi trường phát triển sản xuất không giới hạn. Chứ không phải vì đất đai màu mỡ hay có thể thích ứng với bất cứ cây cối nào.

          Ở các cánh đồng bằng phẳng, lớp đất sét và đất mầu thường không dầy quá 60 – 80 phân. Dưới lớp đất ấy, là cát hay đá cuội, hoặc đá ong, thứ đá này cũng sẽ gặp ở thung lũng sông Hồng thuộc các tỉnh Sơn Tây và Bắc Ninh.

          Ở các vùng đồi núi gập ghềnh, đồi được cấu tạo bằng đất sa bồi lẫn đá với đôi chút sa thạch (Gres) và thạch anh (Quartz). Lớp đất màu trên mặt thường chỉ dày 15 – 20 cm.

          Trong những điều kiện ấy, những thứ cây duy nhất có thể trồng trọt được, trên các sườn núi hoặc trên các mặt đồi, chỉ là những loại cây có rễ chùm, chứ không phải rễ cái thẳng đứng (à pivot).

          Việc điểm qua những giống chính trong các thứ cây trồng đó không phải là không hữu ích. Ta hãy xem trước hết các thứ cây do người bản xứ gieo trồng và khai thác; tiếp theo là những thứ cây mà các chủ đồn điền người Au đang thí nghiệm trong tỉnh.

          Ngũ cốc và cây vùng đồng bằng

          Lúa. Gạo là lương thực chính của người bản xứ. Cho nên bất cứ chỗ nào có thể trồng lúa được là đều trồng lúa. Có hai thứ lúa chính: lúa tẻ và lúa nếp.

         Lúa tẻ chủ yếu dùng để ăn hằng ngày. Một số ruộng có thể thu hoạch một năm hai vụ. Nhưng không phải là trường hợp phổ biến. Chất đất tương đối xấu, cộng với những khó khăn về nước tưới đã chia các chân ruộng này thành 2 loại: ruộng chiêm và ruộng mùa. Loại ruộng thứ hai nhiều hơn, một ha cho năng suất bình quân 13-14 tạ thóc trị giá 80-90 phrăng.

Gạo nếp thường dùng để làm bánh, làm bột và làm rượu. Năng suất gạo nếp cũng xấp xỉ gạo tẻ, nhưng giá thì cao hơn một chút.

Cách thức gieo trồng tiến hành theo những quy trình tương tự trong khắp xứ Bắc kỳ: cày, bừa, cấy, tưới nước (trung bình 3 lần) và gặt. Tất cả các công việc ấy cần một số nhật công trị giá khoảng 25 phrăng một ha. Người ta cày ruộng bằng trâu, mỗi con trâu giá trung bình 60 phrăng, nó có thể cày mỗi vụ 6-7 ha. Cày bừa, công cụ tưới nước rất thô sơ và giá tiền không đáng kể. Trắc hẳn các tỉnh vùng châu thổ, tỉnh Hưng Hóa chỉ sản xuất đủ gạo dùng cho dân chúng trong tỉnh. Số ruộng cấy lúa khoảng 22.000 ha.

Lạc. Người bản xứ trồng khá nhiều lạc. Họ dùng nấu kẹo. Họ cũng rang lên để ăn. Cuối cùng họ dùng lạc ép dầu.

Lạc thường trồng trên các thửa ruộng cao, xen vào giữa hai vụ lúa.

Hoa lợi một ha khoảng 2,4 tạ. Mỗi tạ giá chừng 20 phrăng. Mỗi tạ hạt ép được chừng 40kg dầu. Nhưng không thể căn cứ vào tỷ lệ ấy được. Cách ép dầu của người bản xứ lạc hậu quá nên một phần quan trọng nguyên liệu không sử dụng đến. Khô dầu dùng nuôi gia súc.

Ngô. Ngô cũng coi như thứ cây trồng xen kẽ trên các chân ruộng cấy lúa. Người bản xứ dùng ngô làm bánh và nuôi gia súc, chủ yếu là lợn. Cây mọc không khỏe như ở Au châu. Hạt có màu vàng rất nhạt, gần như trắng. Một cây ngô, trồng cẩn thận ở chỗ đất thích hợp thường cho 2 bắp. Một ha ngô trung bình được 2,4 tạ hạt, giá 7-8 phrăng một tạ. Người ta còn gieo ngô trên đất phù sa ven sông.

Đỗ. Cây đỗ bản xứ rất bé so với cây đỗ Au châu. Hạt đỗ màu xanh đậm. Đỗ trồng trên đất phù sa. Một ha có thể cho 2,4 tạ hạt, giá gần 25 phrăng. Hình như đỗ bản xứ kém chất lượng nên không bán được ra ngoài .

Khoai lang. Người bản xứ trồng rất nhiều khoai lang. Củ nó cứng, rất ngọt. Một ha cho 1,8 tấn củ, giá 52 phrăng.

. Trong tỉnh Hưng Hóa, dân chúng trồng khá nhiều kê. Hạt kê vừa bán tại chỗ vừa bán sang tỉnh khác; giá 2,9 phrăng một tạ. Một ha cho khoảng 18 tạ. Bán được 52,2 phrăng. Kê dùng chăn nuôi gia cầm. Cũng dùng để làm một vài thứ bánh ngọt.

Thầu dầu. Xứ Bắc kỳ sản xuất nhiều thầu dầu. Nhưng tỉnh Hưng Hóa thì rất ít. Dầu ép theo phương pháp thô sơ, thường dùng để đốt. Người ta cũng bán sang Hương Cảng dùng làm dầu nhờn tra máy. Một ha cho 6 tạ hạt, ép được 3 tạ dầu. Thầu dầu cũng trồng trên ruộng cao và giữa hai vụ lúa.

Mía. Mía trồng trên đất bãi bồi. 3 năm trồng lại một lần. Giống mía Bắc kỳ bé, thân cây không cao quá 1m80 và đường kính 4cm. Người bản xứ ép mía bằng những che ép thô sơ, do trâu kéo, nên thường mất một phần nước mía. Một ha cho khoảng 9 tạ, giá chừng 25 phrăng một tạ. Một phần mật cứ thế đem bán không phải lọc, phần còn lại mang chế biến thành đường khô. Người bản xứ dùng mật trộn với vôi cát làm một loại vữa rắn chắc, không nứt nẻ như xi măng châu Au dùng ở đây.

Trầu không. Trầu không chỉ có mỗi một công dụng. Người ta ăn trầu với cau và vôi. Thói quen đáng tiếc ấy làm cho nước bọt của họ có màu đỏ nhạt, đọng ở mép làm cho ta trông thấy phải phát sợ.

Trầu là một loại giây leo. Muốn trồng nó người ta cắm bên cạnh mỗi gốc vài cái cọc, và cách mặt đất khoảng 2m người ta buộc những tấm phên cũng bằng tre, vừa để che nắng cho cây trầu, vừa để giây trầu phát triển ngang ra. Trồng trầu mất nhiều công, nhưng phát tài. Một ha cho một số lượng lá trầu, giá khoảng 250 phrăng. Cứ 3 năm phải trồng lại một lần.

Thuốc lá. Cây thuốc lá thích ứng dễ dàng với đất ở đây. Người Kinh trong tỉnh hầu như không trồng. Trái lại, người Mường trồng khá nhiều và đem bán tại chỗ hoặc bán về Trung châu.

Thuốc lá Mường màu nâu nhạt, rất thơm. Một số người Au lấy lá cuốn “xì gà”  hương vị rất ngon. Tôi nghĩ, thứ sản phẩm này đáng được chú ý. Mỗi kg bán khoảng 30 xu, ở các huyện Cẩm Khê và Hạ Hòa.

 Dâu tằm. Có 2 thứ dâu: dâu ngắn ngày và dâu lưu niên. Dâu ngắn ngày trồng ở các bãi bồi ven sông vì nó cần đất ẩm. Người ta trồng bằng cành, sát nhau thành hàng dài hàng cách hàng 0m50. Dâu lưu niên thường trồng trong vườn. Cây sống khoảng 5-6 năm, mỗi năm cần bón nhiều phân.

Trong tỉnh Hưng Hóa, nhất là trên bờ sông Đà và sông Chảy, có nhiều đất đai thích hợp cho việc trồng dâu. Đối với thứ cây này ta cần cải tiến hai mặt: chọn lọc, trồng lại cây dâu và đổi mới giống tằm. Con tằm cũ, đói ăn, thường thoái hóa và do mắc bệnh liên tiếp nên hay chết hàng loạt, phá hủy kết quả của một quá trình làm việc tỉ mỉ như công việc nuôi tằm đòi hỏi

Cây cau. Cây cau thuộc họ cây dừa, cao 7 - 8m. Nó ra quả thành buồng ở gần ngọn. Quả màu xanh lá cây, ăn với trầu. Cây cau nếu trồng ở chỗ đất thích hợp có thể sinh nhiều lợi. Cây trồng theo nanh sấu, gốc nọ cách gốc kia 3m. Sau 5 - 6 năm, mới ra quả. Một ha trồng cau mỗi năm có thể thu 300 ph-răng. Nó chỉ mất công trồng không mất công gì khác. Một cây cau có thể ra quả 25 năm. Tỉnh Hưng Hóa trồng ít cau, sản phẩm của nó không vượt quá mức tiêu dùng tại chỗ.

Hoa màu và cây cối trồng trên đồi.

Chè. Ta gặp cây chè chủ yếu trong các huyện Cẩm Khê, Phù Ninh, Tam Nông và Thanh Ba.

Chè trồng trên sườn đồi cao; gốc nọ cách gốc kia khoảng 1m. Sau 3 năm, cây cao khoảng 1m2. Mỗi năm hái lá vài ba lần. Một phần bán tươi không chế biến gì; một phần sấy khô và bán sang các tỉnh khác.

Ở một vài vùng, các nhà trồng chè hái nụ khi nó mới to bằng hạt đỗ, phơi khô rồi đem bán. Một số người thích dùng chè nụ hơn chè lá.

Một ha chè có thể thu được 300 phrăng. Sau 7-8 năm, cây chè chết. Thứ cây này không đòi hỏi phân bón; nhưng trước khi trồng lại, tốt hơn hết là nên cho đất nghỉ một vài năm.

Cây dó. Trông lá và hoa, cây dó giống cây tử đinh hương (lil). cây dó trồng ở sườn đồi, càng gần rừng càng tốt vì ở đó đất ẩm hơn. Vỏ dó dùng làm giấy loại tốt. Hoa kiều xuất đại bộ phận sang Canton và dùng dó làm giấy tốt nhất của họ.

Cây dó trồng cách nhau 1m5. Khi cây được 3 năm, người ta chặt sát mặt đất, lúc nó bắt đầu lên nhựa. Vỏ rất dễ bóc và bán mỗi tạ 17 phrăng. Một ha sản xuất khoảng 15 tạ vỏ một vụ. Gốc mọc chồi hai lần, như vậy ta được 3 vụ lấy vỏ. Vỏ dó nghiền thành bột. Ông F.H.Schneider đã dùng thử, qua một số lần thí nghiệm, cũng đã thu được kết quả mỹ mãn về bột cũng như về chất lượng giấy.

Cây sơn. Trong tỉnh Hưng Hóa, người ta trồng sơn trên một diện tích rộng. Đất trồng sơn chọn trên những quả đồi thấp, độ dốc thoai thoải. Đất phải cuốc kỹ. Cây con, đánh từ vườn ươm ra đem trồng gốc nọ cách gốc kia 1m50. Rồi phải sới sạch cỏ và vun gốc nhiều lần. Cây mọc tốt, sau hai năm có thể cho nhựa.

Muốn lấy nhựa, người ta khía chéo thân cây, cắm một cái vỏ trai dưới nhát cắt. Nhựa chảy dần. Hai ba giờ sau, nhấc vỏ trai ra và vét lấy nhựa. Thủ thuật này cần tiến hành từ từ, tỉ mỉ. Một ha sơn có khoảng 1200 gốc. Hoa lợi đồng niên khoảng 180 kg trị giá 120 phrăng. Sau bốn năm, cây sơn chết. Nên để đất nghỉ 2-3 năm trước khi trồng lứa khác.

Sơn Bắc kỳ chất lượng trung bình, bán trong nước hoặc sang Trung Hoa. Nó có thể sản xuất thật nhiều nữa mà không sợ xuống giá.

Cây sở. Cây cao khoảng 5m, lá và hoa giống cây sơn trà (ca meslia). Quả nó có hạt màu nâu, chứa nhiều dầu, dùng ép dầu ăn.

Một chủ đồn điền (O.Gilbert ở Bà Triệu) lọc lại dầu này đã chế được một thứ dầu ăn, nhìn rất đẹp, vị rất ngon và không độc. Cây sở cho hoa lợi sau dăm ba năm, mỗi cây mỗi năm có thể thu được 1,25 phrăng. Cây con sau khi trồng sống rồi thì không cần một sự chăm bón nào nữa. Sau 30 năm thì cây chết.

Hiện nay mới có ít cây sở, không đủ để cung cấp nguyên liệu cho nhiều nhà máy.

Cây dọc. Cây cao khoảng 7-8m, có dáng đẹp, thân thẳng, lá nhẵn bóng. Cây dọc trồng trên các đồi gò có đá tảng. Sau 10 năm, cây ra quả, hạt ép dầu thắp đèn. Quả dọc to bằng quả chanh, hạt ép dầu, xung quanh hạt có một lớp thịt mầu vàng nhạt, mùi hắc và có thể dùng làm dấm. Hoa lợi hàng năm của một cây tốt có thể được 30kg hạt, trị giá 2,5 phrăng. 1 tạ hạt ép được độ 55kg dầu, trị giá 14-16 phrăng. Người ta thấy những rừng toàn cây dọc trong các huyện Tam Nông, Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê và nhất là ở vùng thung lũng sông Chảy (phủ Đoan Hùng).

Cây cọ. Đây là một loài cây thuộc họ cây dừa, mọc trên đồi. Có hai giống cọ. Một giống cao chừng 6m, lá giống như một chiếc quạt xòe ra, đường kính khoảng 70 cm, dùng để lợp nhà. Mái lá cọ bền được 5-6 năm. Lá nhẹ và dễ lợp. Một cây cọ giống này ra mỗi năm 12-15 tầu lá. Một nghìn tầu giá 6-7 phrăng. Có những rừng mênh mông toàn cọ ở huyện Cẩm Khê.

Giống cọ thứ hai chỉ cao 2-3m, cho loại lá dùng làm nón. Người ta chặt lá này trước khi nó xòe, đem về sấy lửa và phơi ra nắng cho trắng.

Trước khi có biến động chính trị làm đình trệ công việc buôn bán, Cu Ba đã xuất cảng một khối lượng lớn lá cọ loại này. Miền Đông nước Pháp nhập lá này để đan một loại mũ lá, hình dáng đặc biệt, bán rất chạy ở Bavière và Tyrol. Mỗi cây ra một năm 5-6 lá. Một trăm lá bán khoảng 2,5 phrăng.

Sắn. Cây sắn trồng khá rộng rãi. Hom sắn, chọn trong số những thân cây tốt nhất của vụ trước, đem vùi xuống đất. Sau đó không phải chăm sóc gì nhiều. Chỉ cần ba tháng làm cỏ một lần. Mỗi gốc sắn mỗi năm ra 3-4 củ. Một ha được 4 tấn củ, giá 100 - 110 phrăng.

Cây chẩu. Loài cây này cho một thứ dầu, ở Hương Cảng gọi là "Wood oll" (dầu gỗ) rất được ưa chuộng vì đặc tính chóng khô hơn tất cả các thứ dầu.

Người bản xứ không xuất cảng dầu chẩu vì sản xuất được ít và tiêu thụ ngay tại chỗ. Dầu chẩu pha vào sơn cho một nước sơn bóng đẹp và rất bền.

Cây chẩu trồng thành rừng, gốc nọ cách gốc kia 3m. Trước 3 năm cây chưa ra quả. Khi sung sức, nó cho mỗi năm 5 kg hạt ...   

 Cây hương liệu. Ta đã tiến hành nhiều cuộc thí nghiệm để thuần hóa một số cây có hương thơm.

Cây cỏ sả, cây hương bài, hoa ylang - ylang hình như cho kết quả khả quan.

Cây ăn quả. Chanh, cam, quít trồng nhiều trong tỉnh. Những thứ này chưa có công nghệ chế biến nào. Người bản xứ ăn mít, bưởi và thìu lựu, quả này không ngon.

Chuối. Có nhiều giống chuối. Thứ cây này mọc dễ dàng bất cứ ở đâu có đất ẩm. Những giống chính là chuối ngự, chuối tiêu và chuối lá mật.

Đem ủ men những quả đó, ta có thể chế ra được rượu có vị ngon. Nhưng cho đến nay, người bản xứ còn coi thường công dụng này.

Dứa. Tỉnh Hưng Hóa sản xuất rất nhiều dứa và đều xuất xuống đồng bằng. Những quả này rất ngon và có thể so sánh với dứa Malaca. Cho tới nay trong tỉnh chưa có một nơi nào làm dứa đóng hộp.

Vải quả. Vải quả là một thứ cây cao 4-5m, tán lá rậm và màu xẫm. Khoảng tháng 6, cây ra quả, to hơn quả râu Montreuil đôi chút và bề ngoài cũng cùng một dáng dấp. Bên trong, múi vải có màu trắng sữa, bao bọc một cái hạt bằng một quả dẻ nhỏ. Vải quả ngon tuyệt; có lẽ có thể cất được một thứ rượu khai vị ngon. Nhưng giá tiền của nó có lẽ còn là trở ngại cho việc chế biến này.

Những quả khác. Trong tỉnh còn có một số quả khác, như quả hồng, vị nó giống như quả mai (Prune); rồi quả mận, quả đào, những thứ này thường chua hay chát.

Rau. Người bản xứ trồng một số giống rau. Những rau này kém các thứ người Au trồng. Không một thứ rau nào của người bản xứ được dùng vào bữa ăn của người Pháp.

Cây lấy gỗ và lâm sản.

Tre. Trong tất cả các loài cây mọc ở Bắc Kỳ, chắc chắn tre là loài cây thông dụng và được nhiều việc hơn cả. Tre dùng làm nhà làm đồ đan; người tết những dây thừng có độ bền dai khá lớn và đan những thuyền nan với giá rất rẻ. Trong giàn giáo, tre làm cột chống có thể chịu sức nặng đáng kể. Cuối cùng lá tre dùng cho trâu bò ăn.

Có tới 32 loài tre. Có thể chia làm 3 loại:

1- Tre đực, mắt lồi và cứng, đặc tới 2/3 chiều dày. Nó cao 20 m. Tre này nếu đem ngâm một hai năm thì không thể mục nát được.

2- Tre cái, thân ống mỏng. Dùng đan những tấm phên lớn để úp lên mái tranh. Sau 3-4 năm, những phên đó phải thay cái khác.

3- Cuối cùng là tre lưỡng tính, lớn bằng cây tre đực và có những đặc tính của cây tre cái. Nó ít được dùng. Người Mường dùng những đoạn tre này để vác nước về nhà.

Có rất nhiều tre, đủ các loại, trong các rừng của tỉnh này. Người bản xứ đóng bè, trở về bán ở Sơn Tây và Hà Nội. Một số lớn bè tre cũng từ vùng người Mường xuôi sông Bứa ra sông Hồng.

Gỗ. Phần lớn chất lượng bình thường; ngay cả những thứ gỗ hiếm, dùng cho các công trình xây dựng của người Au thì ở tỉnh này cũng không cứng không bền bằng những thứ gỗ cùng loại mọc ở Trung kỳ.

Ta có thể chia các giống cây quen thuộc nhất ra làm 2 loại:

1- Loại không mục nát hoặc mối mọt được.

Trong số này phải kể gỗ Lim, thứ gỗ quen nhất và ưa chuộng nhất; nó cao 10-12 m, đường kính 80 cm. Gỗ này còn gọi là thiết mộc, rất rắn. Lõi màu đỏ như gỗ báng súng, lớp gỗ ngoài lõi dưới vỏ màu xám vừa. Gỗ Lim dùng làm kèo cột, rầm nhà, đóng đồ. Nhưng do nó rắn, việc bào và đánh nhẵn đôi khi rất khó và không hoàn chỉnh.

Gỗ táu và gỗ chò nâu. Những thứ này cũng giống phần nào gỗ tếch. Nó không thối mục dưới nước, khó nẻ dưới sức nóng, thường dùng làm cầu, đóng thuyền. Gỗ này khá hiếm. Có khi người ta tìm được những cây sẻ được những tấm ván rộng 50 cm, dài 14 m.

Gỗ sến. Những cây thuộc giống này cao tới 14 m, đường kính 60 cm. Thớ gỗ chắc và ván có thể uốn cong được; gỗ sến thường dùng đóng thuyền.

Gỗ mít. Gỗ này có màu vàng tươi rất đẹp; để lâu nó trở màu đỏ nhạt. Nó dễ xẻ, không nứt và ít co giãn. Được dùng để đóng tất cả các thứ đồ khảm (đồ thờ, đồ mộc sang trọng). Người bản xứ ưa chuộng nó vì những đặc tính này. Hộ trồng mít bên cạnh nhà vừa lấy gỗ, vừa lấy quả, mà họ rất hay ăn.

Gỗ lát khét và gỗ kang tang là những thứ dùng để đóng đồ.

Gỗ soan. Không cứng lắm; thớ của nó to. Do nó bền và rẻ. Người ta thường dùng làm gỗ khung mái nhà.

Gỗ sòi tranh và gỗ dôi khoai dùng để đóng đồ.

Gỗ chẹo, gỗ tâm, thứ gỗ nói sau dể bổ và dùng để làm hương nén.

2- Loại gỗ tạp, hay bị mối mọt.

Có thể kể gỗ dẻ, gỗ sòi, gỗ bo, gỗ cau… và một lô thứ gỗ khác mà phần lớn chỉ dùng để đốt.

Mây. Có rất nhiều trong các rừng cây. Nó dùng làm dây kéo thuyền, dây cột buồm. Người ta dùng đan lát. Một tạ dây mây (song) độ 2 cm đường kính bán được độ 22 phrăng.

Thứ lớn hơn giá 6 ph-răng 1 tạ. Tất cả mây, song kiếm được đều bán về Hà Nội.

Mặc dù có nhiều đơn đặt hàng của các hãng buôn Pháp, chưa có một người nào nghĩ tới việc xuất mây sang Au châu, ở đó tiêu thụ rất nhiều để làm đồ đan và ghế mây.

Những lâm sản khác.

Củ nâu. Thứ hàng này rất được ưa chuộng. Người ta tiêu thụ rất nhiều hoặc bán sang Trung Hoa. Củ nâu dùng để nhuộm vải, nó cho một màu hạt dẻ, rất bền.

Một tạ củ nâu giá chừng 12 phrăng. Chất nhuộm này, các huyện Hạ Hòa, Phù Ninh và phủ Đoan Hùng có nhiều.

Cánh kiến. Chất này là một hỗn hợp chất bài tiết của một giống kiến với nhựa một số cây. Cánh kiến được châu Au ưa chuộng. Hòa tan trong rượu, cánh kiến cho một thứ sơn bền chắc và mịn, chủ yếu dùng để sơn khung xe Ô tô. Người ta cũng dùng nó để nhuộm vải màu đỏ anh đào. Một tạ cánh kiến giá chừng 75 phrăng. Trong tỉnh Hưng Hóa chỉ có ít cánh kiến; vùng Chợ Bờ có nhiều hơn.

Kim mao. Đây là một thứ sợi thực vật, mềm như tơ, màu nâu. Nó chịu được sức ép, không nén lại và dùng để nhồi gối và đệm, gọi là gối, đệm “cao miên”. Au châu có thể dùng để làm mũ lụa. Giá kim mao khoảng 100 phrăng 1 tạ.

Dứa dại. Ở Trung kỳ, người ta dùng lá dứa làm nón. Tuy ở Hưng Hóa có nhiều, song không ai dùng.

Trong rừng của tỉnh này, còn có một số dây leo, trích thân ra lấy được nhựa trắng; nhựa này đặc dần, thành một thứ nhựa giống cao su.

Cây dược liệu. Người bản xứ hái trong rừng nhiều thứ cây làm thuốc, trong số này thứ được biết nhiều nhất là sa nhân. Nó được xuất phần lớn sang Trung Hoa, giá 400 phrăng 1 tạ.

Nhiều người Au có đồn điền trong tỉnh. Trong số này, có thể kể Duchenmin ở phủ Đoan, Morice ở Hưng Hóa, Gilbert ở Ba Triệu và Hạ Hòa, Bichot là Lecacheux ở Phú Lộc, Verdier ở Hưng Hóa, Babotin và Litolff ở Đồn Vàng.

Phần lớn họ vừa cấy lúa vừa trồng cà phê, sắn, củ từ …

Như trên có nói Duchemin tập chung vào việc phát triển cây Abaca (chuối lấy sợi), và Gilbert dùng hạt sở ép được một thứ dầu ăn có chất lượng.

Diện tích đất cắm cho người Au làm đồn điền khoảng 10.000 ha

2/ KỸ NGHỆ - MỎ:

Từ 1893 – 1894, đã có nhiều cuộc thăm dò quặng mỏ trong tỉnh; sau đó đã có nhiều khu đất được cắm lại. Tất cả những khu này đều dành cho việc khai thác than đá; song vẫn giữ nguyên trạng; chưa tiến hành một công việc khai thác nào.

Theo các kỹ sư đã tới thăm tỉnh Hưng Hóa, chắc chắn ở đây có nhiều than đá. Sở dĩ người ta chưa khai thác, chắc hẳn vì gặp nhiều trở ngại hoặc do việc phát hiện ra nhiều mỏ than ở gần bờ bể.

Công nghệ địa phương.

Người bản xứ không có một thứ công kỹ nghệ gì. Tuy họ có trong tay rất nhiều nguyên liệu, cho tới nay họ vẫn bó hẹp phạm vi kinh doanh trong việc bán những thứ đó sang các tỉnh láng giềng.

Tuy nhiên có một số người nấu rượu bằng gạo là thứ tiêu thụ hàng ngày trong dân chúng. Hai năm nay, thành lập một hệ thống đại lý rượu, số người nấu rượu đã giảm. Phần lớn rượu tiêu thụ trong tỉnh đều sản xuất ở hãng nấu rượu đặt ở tỉnh lỵ.

3/ BUÔN BÁN:

Như ta đã thấy, gạo chỉ sản xuất đủ dùng. Người ta bán ra ngoài rất ít. Hàng trao đổi chính là gỗ. Giá trị các bè gỗ chở về xuôi hàng năm lên tới 2-3 triệu đồng. Cũng trong các chợ, người ta bán sơn, gió làm giấy, tập trung nhiều ở chợ Văn Lang (Hạ Hòa), Phú Thọ (Lâm Thao), Việt Trì (Hạc Trì).

Mây và lá cọ chủ yếu ở chợ Lệ Mỹ (Phù Ninh), chợ Ngà (phủ Đoan Hùng).

Gỗ và tre dùng đóng bè tập trung ở chợ Ngà và Đồn Vàng (châu Thanh Sơn).

Những mặt hàng thường bán ở các chợ trong tỉnh:

Rượu gạo. Một lít: 0đ 19                         Tre cái.                    100 cây = 3,00

Tre đực.    100 cây = 7,50                        Tre thường (nứa).   100 cây = 0,50

Chuối.            1 nải = 0,07

Bò:               1 con =  18đ00                    Gỗ làm củi: 1 tạ                   =  0đ35

Trầu không: 1 cân = 0,25                         Gỗ tứ thiết: 1 cây                 = 7,00

Trâu:            1 con = 25,00                       Vải vuông trắng: 20 vuông  = 0,45

Sa nhân: 1 cân       = 1,50                         Vải vuông đen:        nt         = 0,70

Vôi:        1 tạ          = 0,80                        Vải âu châu trắng:  1 mét     = 0,25

Củ nâu:   1 tạ          = 3,00                                ==        xanh:     =         = 0,25

Muối:      1 cân       = 0,20                                ==        đen:        =        = 0,25

Lụa:    1 tấn 20 vc  = 3,50                                ==        đỏ:         =         = 0,25

Tiền thông dụng trong tỉnh Hưng Hóa là đồng bạc Pháp, giá trị trên dưới 2,5 phrăng; và tiền kẽm là một quan (giá trị bằng 1/6 đồng bạc Pháp).

Đường đi lại buôn bán chủ yếu là đường thủy: sông Hồng, sông Lô, sông Chảy, sông Đà và sông Bứa.

Ngoài ra có một vài đường bộ tốt, đáng kể là đường từ Việt Trì đi Ngọc Lập, Hưng Hóa đi Đồn Vàng, sông Đà lên địa giới đạo quan binh thứ tư. Số đông các đường khác không dùng được cho xe ô tô.

Như trong nhiều tỉnh khác ở Bắc Kỳ, việc chuyên chở trong tỉnh Hưng Hóa thường dùng đường thủy hoặc phu khiêng vác. Tuy nhiên trong vùng rừng núi, người ta dùng trâu kéo gỗ đem ra các bến.

Tầu thủy. Có ba đường tầu thủy khởi hành từ Việt Trì, do công ty vận tải đường sông đảm nhiệm. Hai lần trong một tuần, có các chuyến khứ hồi Việt Trì - Chợ Bờ, Yên Bái - Lao Cai và Tuyên Quang.

Ba lần trong một tuần, cũng những chuyến tàu của hãng này chạy qua Hà Nội - Việt Trì và ngược lại, khớp với các chuyến đi và đến qua các đường đã nói ở trên.

PHẦN THỨ V/ LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ.

Đồn binh: Nhà chức trách luôn duy trì quân đội ở Việt Trì thị trấn này ở chỗ hợp lưu của ba con sông (Hồng, Lô, Đà) và vì vậy trở thành một điểm chiến lược quan trọng. Ở đây, từ nhiều năm nay đã xây nhiều trại lính tốt.

Sau này thành lập gần đây của trung đoàn lính khố đỏ thứ 4, Việt Trì đã chọn làm nơi đóng quân của phần lớn đạo quân này. Hiện nay, ở Việt Trì có một quan năm, một quan tư tiểu đoàn trưởng, 3 quan ba, 3 quan hai và khoảng hai đại đội pháo thủ.

Ở Phủ Đoan, trên sông Lô, một đại đội của Tiểu đoàn thủy binh thứ 9 đóng trong những trại lính xây từ năm 1891. Doanh trại này xây trên một quả đồi ở chỗ hợp lưu của sông Chảy và sông Lô, là một nơi lành và thoáng.

Đồn lính khố xanh: Đơn vị khố xanh của tỉnh có 250 người, một số đóng ở tỉnh lỵ, số còn lại chia về các đồn: Địa, Cẩm Khê, Đồn Vàng, Lệ Mỹ, Tu Vũ, Hiền Lương; tất cả các đồn này trừ Tu Vũ, đều do sỹ quan người Au chỉ huy.

Trong tỉnh có 300 lính cơ, trong đó 60 lính cơ người Mường, họ đóng ở các đồn Yên Lành, Hăng Yên, Lang Ngọc, Thu Cúc, Ngả hai. Lính khố xanh và lính cơ được giao trách nhiệm giữ trật tự và trông coi các đồn lính.

Nhiều chủ đồn điền ở sâu trong nội địa đã được phép đón một số lính cơ về đóng trong đồn điền để bảo vệ họ và giữ gìn tài sản cho họ. Họ phải chi tiền lương cho lính. Chính phủ cung cấp quần áo, trang bị và vũ khí.

PHẦN THỨ SÁU/ TƯƠNG LAI CỦA HƯNG HÓA:

Dân cư tỉnh Hưng Hóa khá đông, dễ bảo và ham việc. Ở đây không thiếu đất trồng trọt, song xấu tốt không đều. Tất cả những cánh đồng có thể cấy được lúa hiện đã có chủ sở hữu. Tuy vậy có thể còn một vài trăm héc ta ở Hạ Hòa và Đoan Hùng. Còn về đất đồi thì bao nhiêu diện tích mênh mông chưa khai khẩn. Lợi dụng kinh nghiệm người bản xứ, ta có thể phát triển các đồn điền trồng sơn, dó, trẩu, sở. Còn về cà phê chỉ nên trồng sau khi đã nghiên cứu kỹ lưỡng khu đất định trồng. Vùng giữa Yên Bái và Phủ Đoan có nhiều rừng thưa, do đó không thiếu độ ẩm và bóng mát, có thể ưu tiên chọn trồng cây này.

Trở ngại lớn nhất mà người đi khai hoang thường hay gặp phải khi họ ở miền rừng núi là nạn thiếu nhân công. Như ta đã thấy, người bản xứ không thích đi xa đồng bằng. Họ chỉ dời đồng bằng lên rừng núi khi ở đó dễ kiếm tiền, những người ở lại sinh cơ lập nghiệp thường lao vào nghề buôn gỗ rất có lãi hoặc buôn những nguyên liệu khác mà họ mua cất ngay tại chỗ. Người làm ruộng, rất đông ở đồng bằng, thích sống nghèo nàn với một đồng lương ít ỏi ở đây còn hơn là đương đầu với một thứ khí hậu mà do kinh nghiệm bản thân một phần do tưởng tượng, họ cho là độc, nguy hiểm.

Một chủ đồn điền không nên ở xa những địa điểm đã có dân ở. Khi ở gần họ có một đám dân chúng làm nhân cốt, thì dù đám này có ít ỏi chăng nữa, họ vẫn có điều kiện thuận tiện hơn để thu hút người nơi khác đến làm công trong đồn điền của họ. Họ phải đặc biệt nghiên cứu phong tục, cách sống, cách làm việc của người bản xứ thay đổi càng nhanh càng tốt những người đó thành những người hám lợi và họ cho người ta thấy những lợi tức chắc chắn và tạm đủ thì sẽ có thể giữ người ta ở lại đồn điền được.

Hơn nữa, trong suốt một tương lai gần đây, những điều kiện sống sẽ thay đổi. Song song với cuộc bình định, người bản xứ, rất mắn đẻ (prolifique) sống đã chen chúc ở đồng bằng, trong một vài năm nữa sẽ không thể ở mãi đó. Nhu cầu sẽ buộc một phần những người bần cùng phải tìm đến những vùng còn nhiều nguồn lợi chưa khai thác để mà sinh sống.

Cuộc di cư này sẽ diễn ra chậm chạp nhưng nhất định sẽ diễn ra. Cái ngày mà đường xe lửa Hà Nội - Vân Nam cho phép chuyên chở nhanh chóng trên đường dài, những người bản xứ, mới đầu còn dụt dè, sau bắt chước người khác, sẽ quyết định lên ở những vùng rừng núi mà ngày nay còn gợi lên cho họ nhiều mối lo ngại. Đến nay có những người Au châu có thể - tin tưởng hơn và ít khó khăn hơn - mở nhiều đồn điền thịnh vượng.

Tóm lại, do vị trí ở đầu vùng đồng bằng và cửa ngõ miền núi, thừa hưởng sự trù phú của hai vùng, tỉnh Hưng Hóa khiến cho những người khai thác một môi trường hoạt động rộng lớn. Và những kết quả đã giành được cho phép những người sắp tới đây kinh doanh hy vọng thu được lợi tức rất rồi rào./.

Hết!