day
,
00
/
month
/
0000
Tiếng Việt
English
Thứ Bảy, 10/01/2026, 09:15 (GMT+7)
Nằm trên địa bàn thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông cũ, nay là xã Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, Đền Nhà Bà thờ nữ tướng Hồ Thiên Hương, một nữ tướng tài giỏi thời kỳ Hùng Vương và An Dương Vương. Truyền thuyết về nữ tướng Hồ Thiên Hương còn gắn liền với tục giã bánh giầy làng Trúc Phê mà hàng ngàn năm qua, người dân nơi đây vẫn duy trì tục lệ hằng năm để tưởng nhớ những bậc tiền nhân có công đánh giặc giữ nước.
Làng Trúc Phê, thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông cũ, nay là xã Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, xưa có thời được gọi là Trúc Hoa Nham Động, xã Hưng Hóa. Làng nằm bên bờ hữu ngạn sông Thao. Bên kia sông là làng Á Nguyên, xã Bản Nguyên, huyện Lâm Thao cũ.
Theo ngọc phả, đền Mẫu được thị trấn lưu giữ, ngôi đền Mẫu còn được gọi là Đền Nhà Bà. Đền thờ được tạo dựng trên đỉnh một ngọn núi thấp, cây cỏ xanh tươi quanh năm bao phủ, xen lẫn nhiều hang đá mọc nhấp nhô, trông xa đẹp như hoa xuân trái lạ. Vì thế, xưa kia nơi đây được gọi là Trúc Hoa Nham Động, mãi về sau mới đổi gọi là làng Trúc Phê.
Đền Nhà Bà thờ nữ tướng Hồ Thiên Hương. Theo ngọc phả nhà đền và truyền thuyết được nhân dân làng Trúc Phê truyền lại: Ở vùng đất này có cặp vợ chồng nhà họ Hồ, tuổi đã cao mà chưa có con. Một hôm, bà nằm mộng thấy ngôi sao trên trời sa vào miệng. Ông bà cho là điềm lành. Quả nhiên sau đó bà thụ thai và sinh ra một gái, một trai. Ngày bà sinh là ngày 12 tháng 8, hương thơm ngào ngạt tỏa khắp nhà. Ông bà bèn đặt tên con gái là Thiên Hương, con trai là Hồ Tông. Khi hai con được 13 tuổi thì ông bà qua đời. Chị em nuôi nhau khôn lớn hòa thuận, khi chăm sóc việc nông trang, lúc cùng dân làng săn bắn.
Cuộc chiến Hùng - Thục xảy ra. Hồ Thiên Hương và Hồ Tông theo Tản Viên Sơn Thánh đánh thắng quân Thục, được Vua Hùng ban cho làm Mị Nương và Đô Thống.
Thời kỳ đó, giặc phương Bắc âm mưu xâm lược nước Văn Lang. Vua Hùng nghe theo lời khuyên của Nguyễn Tuấn, tức Tản Viên Sơn Thánh, nhường ngôi cho Thục Phán để đoàn kết dân tộc, bảo vệ đất nước. Thục Phán lên ngôi, lấy hiệu là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc. Từ đó, Hồ Thiên Hương và em trai cùng các tướng lĩnh theo An Dương Vương đánh giặc phương Bắc.
Hồ Thiên Hương mưu trí, dũng cảm, có tài binh đao, thao lược, đã lập nhiều chiến công, trở thành nữ tướng tài giỏi của An Dương Vương. Do lập nhiều chiến công nên Hồ Thiên Hương được An Dương Vương phái về dựng bản doanh ở Trúc Phê, trấn giữ miền hữu ngạn sông Hồng.
Một lần, khi quân của tướng Đinh Công Tuấn bị giặc bao vây bên Á Nguyên, Hồ Thiên Hương đã vận động nhân dân làm cơm nắm, bánh giầy, cá kho ném vào đám quân giặc đang đói khát, khiến chúng bỏ vây mà tranh cướp lấy thức ăn. Quân của Đinh Công Tuấn nhờ đó đã thoát khỏi vòng vây.
Chính xuất phát từ tích này mà về sau, dân làng Trúc Phê có tục giã bánh giầy để tưởng nhớ ngày khao quân và công lao của nữ tướng Hồ Thiên Hương. Dân làng Trúc Phê xưa nay vẫn truyền miệng câu ca:
"Trúc Phê có tiệc bánh giầy. Bên Á há miệng, bên này chày đâm"
Đến thời nhà Lê, vua Lê đã phong cho nữ tướng Hồ Thiên Hương là "Mẫu Vương Công Chúa" và giao cho nhân dân làng Trúc Phê dựng đền thờ, coi sóc việc hương khói muôn đời. Từ đó đến nay, nhân dân thường gọi nơi thờ tự bà Hồ Thiên Hương là Đền Mẫu hay Đền Nhà Bà.
Ngôi đền nhìn ra hướng Đông, có kết cấu hình chữ Nhị (二), gồm một tòa Đại Bái và tòa Hậu Cung. Mỗi tòa đều có 3 gian, 4 hàng chân cột. Đền đã được tu sửa nhiều lần với vật liệu chính là tường gạch và khung gỗ.
Trong đền còn lưu giữ được những bức chạm trổ, điêu khắc có giá trị, mang những đặc điểm nghệ thuật đầu triều Nguyễn, có kế thừa đặc điểm kiến trúc của các triều đại trước. Đáng chú ý là bức cốn đối xứng nhau, được chạm bằng kỹ thuật đục bong, chạm nổi điêu luyện với đề tài Tứ Linh, mình rồng ẩn hiện giữa các cụm hoa lá đan xen.
Ngoài cửa chính giữa Hậu Cung treo bức hoành phi mang chữ "Hiển Linh Từ" được sơn son thếp vàng. Cửa võng của Thượng Cung được trang trí trang nghiêm, lộng lẫy. Bên trong Thượng Cung có tượng nữ tướng Hồ Thiên Hương được tạo tác bằng gỗ trong tư thế ngồi trên long ngai được sơn son thếp vàng. Trong đền cũng còn lưu giữ một bát hương bằng đá, một bát hương gốm cổ. Ngoài ra còn có các đồ thờ tự, tế khí khác.
Hằng năm, tại Đền Nhà Bà có 3 kỳ tiệc chính:
Ngày tiệc mùng 8 tháng Giêng có tục giã bánh giầy. Tất cả những con dân cháu làng có tâm tham gia dâng lên gạo nếp để giã bánh giầy. Các xóm có thi giã bánh giầy, sau đó rước từ xã lên đền thờ để dâng lên lễ Mẫu. Các cụ ăn mặc quần lượt, áo dài, áo the chỉnh tề. Các cháu học sinh mặc quần áo đai xanh, mũ đỏ, đội nón chóp đỏ, khiêng kiệu, rước kiệu đi từ xã rước lên. Khi rước đến cổng Đền, các cụ nổi trống, chiêng, các cháu bắt đầu cầm cờ chạy. Chạy từ dưới cổng chạy lên vòng qua sân Đền, nhộn nhịp và rất vui. Dân làng, con cháu đi xa về gần nhớ đến ngày mùng 8 tháng Giêng lại nô nức trở về để tham gia dự hội.
Đền Nhà Bà không chỉ là nơi thờ tự nữ tướng Hồ Thiên Hương, mà với vị trí địa lý của khu vực đền, đây còn là nơi lực lượng Cách mạng địa phương chọn để cất giấu vũ khí và nơi hội họp của mặt trận Việt Minh trong những năm 1944 - 1945, nhằm tiến tới cuộc nổi dậy giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám.
Với những giá trị lịch sử và văn hóa nghệ thuật, di tích Đền Mẫu hay Đền Nhà Bà (xã Tam Nông, tỉnh Phú Thọ) đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia tại Quyết định ngày 02 tháng 12 năm 1992.
Ngôi đền luôn được Nhân dân địa phương trông nom, tôn tạo. Hằng ngày, người dân tự nguyện lên Đền cùng tham gia với các cụ trong ban khánh tiết quét dọn. Đây là nơi nhớ đến cội nguồn. Lễ hội hoặc ngày tuần, ngày rằm người dân nơi đây đến hội tụ để cùng nhau chăm lo việc thờ phụng, nghĩ đến tâm linh, nhớ công ơn của nữ tướng Hồ Thiên Hương.
Đền Nhà Bà có khuôn viên thoáng rộng, trở thành nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân địa phương. Tuần tiết, các thành viên ban khánh tiết nhà Đền đều có mặt để chăm sóc các ban thờ, thắp đèn nhang, lau dọn các đồ thờ tự cho ngôi đền ấm áp, trang nghiêm.
Với tấm lòng thành kính, người dân địa phương một lòng bảo vệ, gìn giữ di tích để giữ gìn những giá trị truyền thống mà cha ông ta để lại. Để nơi đây luôn là nơi nhắc nhở các thế hệ biết ơn tiền nhân, giáo dục con cháu về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Hải Đăng (St)